TÂY BỘ (TÂY NGUYÊN DUYÊN HẢI) – VÙNG ĐỊA HÌNH ĐỘC LẬP, KHÔNG THUỘC BẮC TRUNG BỘ CŨNG KHÔNG THUỘC NAM BỘ

Trong tư duy phân vùng truyền thống, Việt Nam thường được chia thành ba khối quen thuộc: Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Tuy nhiên, cách phân chia này che khuất một thực tế địa lý quan trọng: giữa Nam Trung Bộ và Nam Bộ tồn tại một không gian hoàn toàn khác, có cấu trúc địa hình riêng biệt, không thể áp chung mô hình của hai vùng lân cận. Không gian đó chính là Tây Nguyên Duyên Hải, hay gọi đúng bản chất hơn là Tây Bộ.

Về mặt phân vùng cho đúng, cần chấm dứt sự nhập nhằng kéo dài. Hà Tĩnh thuộc Bắc Trung Bộ; Huế thuộc Nam Trung Bộ; Sài Gòn thuộc Nam Bộ. Trong khi đó, Tây Bộ nằm giữa Nam Trung Bộ và Nam Bộ, không thuộc về bên nào. Đây là một khối địa hình – kinh tế độc lập, nhưng trong nhiều thập kỷ đã bị nhìn nhầm như “phần kéo dài của duyên hải” hoặc “vùng phía sau của Tây Nguyên”. Chính sự nhìn nhầm này tạo ra sai lầm nền tảng trong tư duy quy hoạch.

Xét riêng Nam Trung Bộ theo trục Huế trở vào, đây là dải duyên hải thuần túy. Phía Tây bị dãy Trường Sơn dựng đứng chặn lại, không có cao nguyên mở phía sau, không có bình nguyên chuyển tiếp đủ lớn. Biển và núi kẹp sát nhau, khiến phát triển buộc phải bám ven biển và lệ thuộc trục Bắc – Nam. Cấu trúc này không thể sinh ra mô hình biển – cao nguyên – logistics nội địa, vì thiếu hoàn toàn không gian trung gian để tổ chức mạng lưới.

Nam Bộ lại là một thế giới khác. Đây là đồng bằng phù sa của hệ thống sông Mekong, địa hình phẳng, thấp, bồi lấp, sông rạch chằng chịt. Không có cao nguyên, không có núi rừng, không có đèo. Bản chất phát triển của Nam Bộ là vùng sông nước – thị trường – mạng lưới thủy nội địa. Nam Bộ lớn lên nhờ sông và thị trường, không phải nhờ địa hình hay trục Đông – Tây.

Tây Bộ không giống Nam Trung Bộ, cũng không giống Nam Bộ. Cấu trúc địa hình của Tây Bộ là một hệ liền khối ba lớp: mặt trước là biển Đông với chuỗi vịnh kín hướng thẳng ra hàng hải quốc tế; lõi giữa là bình nguyên chuyển tiếp kéo dài qua Tây Sơn, An Khê, Ayun Pa, Chư Sê; và mặt sau là cao nguyên bazan rộng lớn của Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông. Đây là hệ biển – bình nguyên – cao nguyên liền khối, một cấu trúc không tồn tại ở Huế và cũng không tồn tại ở Sài Gòn.

Ba đặc điểm địa hình độc nhất của Tây Bộ làm nên sự khác biệt căn bản. Thứ nhất, phía sau không phải là núi chắn mà là cao nguyên mở, đủ lớn để tổ chức sản xuất, logistics và năng lượng. Thứ hai, tồn tại một bình nguyên trung gian đủ rộng, không phải thung lũng hẹp như miền Trung, cũng không phải đồng bằng sông nước như Nam Bộ; đây là mặt bằng lý tưởng để đặt trung tâm điều phối. Thứ ba, trục sống còn của Tây Bộ là Đông – Tây, không phải Bắc – Nam. Bắc – Nam chỉ là trục đi ngang qua, trong khi Đông – Tây mới tạo ra giá trị: cao nguyên – bình nguyên – biển – quốc tế.

Tây Bộ bị kẹt và nghèo không phải vì thiếu lợi thế, mà vì không được nhìn nhận đúng bản chất. Nó không được coi là duyên hải đúng nghĩa, cũng không được coi là Tây Nguyên độc lập, lại càng không phải Nam Bộ mở rộng. Khi không được nhìn như một vùng hoàn chỉnh, Tây Bộ bị chia nhỏ trong tư duy và quy hoạch. Áp mô hình Huế vào Tây Bộ thì bỏ phí cao nguyên; áp mô hình Sài Gòn vào Tây Bộ thì bỏ phí địa hình và trục Đông – Tây.

Kết luận cốt lõi là: Tây Bộ (Tây Nguyên Duyên Hải) là một vùng địa hình độc lập, nằm giữa Nam Trung Bộ và Nam Bộ, không thuộc về bên nào. Nó không phải dải ven biển hẹp như Huế, cũng không phải đồng bằng phù sa như Sài Gòn, mà là một hệ biển – bình nguyên – cao nguyên liền khối. Chỉ khi được tổ chức theo trục Đông – Tây, và đặt trung tâm ở vùng chuyển tiếp như Tây Sơn – Chư Sê, Tây Bộ mới có thể phát triển đúng với bản chất địa hình và tiềm năng thực sự của mình.

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Scroll to Top