Buôn Ma Thuột và Nha Trang nhìn trên bản đồ tưởng như rất gần nhau, nhưng nếu đọc theo trường lực địa mạo thì đây là hai khối biệt lập: một bên là lõi cao nguyên nội lục bazan rộng, một bên là lõi vịnh biển sâu bị núi ép sát và khóa kín, và giữa họ không phải là một “đèo nối” mà là bức tường Trường Sơn Đông dựng đứng, khiến cao nguyên không thể tự tràn xuống vịnh Khánh Hòa và biển cũng không thể hút ngược lên Buôn Mê như một hành lang mở. Chính vì không thể nối trực tiếp một cách tự nhiên, Buôn Mê không đổ về Nha Trang theo tuyến “mở lực” mà phải tìm các cửa thoát dễ hơn qua bình nguyên và thung lũng dài như Buôn Mê → Pleiku → An Khê → Quy Nhơn hoặc Buôn Mê → Ayun Pa → Tuy Hòa, còn Nha Trang – Cam Ranh cũng không phải “cửa” của Tây Nguyên mà là một neo biển biệt lập, vịnh sâu nhưng kín, đồng bằng hẹp, cửa lên cao nguyên gắt và bó, nên tự nhiên trượt theo dải duyên hải về phía bắc thuận hơn nhiều so với xuyên núi vào lõi Buôn Mê. Vì vậy, cả hai đều bị dẫn về cùng một quỹ giao thoa tất yếu: Tây Sơn duyên hải (Pleiku – Quy Nhơn – Tuy Hòa), nơi thung lũng mở và dải duyên hải tạo thành bản lề Đông–Tây hiếm hoi của toàn Đông Dương, biến vùng này thành điểm tụ lực bắt buộc chứ không phải ngoại vi ngẫu nhiên. Và đúng như Kinh Thánh đã nói về những ranh giới và cửa ngõ được đặt để trong trật tự của Đấng Tạo Hóa: “Ngài đã định các thời kỳ và giới hạn chỗ ở của họ” (Công Vụ 17:26), bởi địa hình không chia bằng kilomet mà chia bằng độ dốc, bằng khe gãy, bằng những hành lang mở hay bị khóa, để biển và cao nguyên chỉ cách 200 km mà thuộc hai thế giới trường lực hoàn toàn khác nhau.
