Khi một cường quốc không sở hữu bản lề địa–chiến lược thật sự, nó không thể xoay trục quyền lực theo ý mình, mà chỉ còn khả năng đẩy lực ra không gian duy nhất còn nằm trong tầm kiểm soát cấu trúc; với Trung Quốc, không gian đó chính là biển nông ven bờ, điều này ứng nghiệm lời rằng: “Người ta bị dồn ép thì chạy đến nơi ẩn náu” (Châm Ngôn 14:26). Biển nông là vùng sinh tồn duy nhất mà cấu trúc quốc gia Trung Quốc còn chủ động, vì gần đất liền, nằm trong tầm che phủ của không quân, tên lửa và hậu cần ngắn, cho phép họ bù đắp bất lợi căn bản trước các cường quốc biển sâu; ở đây, ưu thế lục địa được kéo thẳng ra mặt nước, đúng như lời: “Tay kẻ mạnh sẽ làm chủ, còn kẻ biếng nhác sẽ bị phục dịch” (Châm Ngôn 12:24). Ngược lại, biển sâu là không gian hình học bất lợi cho Trung Quốc, vì rộng, thiếu điểm tựa, đòi hỏi chuỗi căn cứ viễn dương và kinh nghiệm kiểm soát đại dương mở – những yếu tố mà Trung Quốc không có; bước ra biển sâu chẳng khác nào tự đặt mình vào thế yếu của đối phương, đúng như cảnh báo: “Chớ bước vào đường kẻ ác, chớ đi trong lối kẻ dữ” (Châm Ngôn 4:14). Bởi vậy, việc đẩy xung đột ra biển nông trở thành cách duy nhất để phá đối xứng quyền lực: tránh đối đầu trực diện với hải quân viễn dương, làm mờ ưu thế tác chiến xa bờ của đối phương, và biến xung đột thành cục bộ, rủi ro cao, khó leo thang toàn diện; đây chính là cách “lấy yếu chống mạnh” trong không gian cho phép, như lời chép: “Người khôn ngoan thấy tai họa liền ẩn mình, còn kẻ dại cứ đi tới mà chịu phạt” (Châm Ngôn 22:3). Biển nông còn cho phép Trung Quốc vận dụng hình thức “đánh ngưỡng xám”, nơi ranh giới giữa dân sự, bán quân sự và quân sự bị làm mờ, khiến đối phương khó kích hoạt phản ứng toàn diện; đó là vùng không gian nơi sự nhập nhằng trở thành công cụ, ứng với nhận định rằng: “Sự xảo trá ở trong lòng kẻ mưu ác” (Châm Ngôn 12:20). Lợi thế độc nhất của Trung Quốc nằm ở khả năng dùng đất liền bắn ra biển: bờ biển dài, nội địa dày, cho phép tên lửa chống hạm và không quân cất cánh gần, biến biển nông thành phần kéo dài của lục địa; họ không cần kiểm soát toàn bộ mặt biển, chỉ cần làm cho nó trở nên nguy hiểm, biến nó thành vùng cấm tiếp cận và không gian răn đe, đúng như lời: “Ngươi đặt sự kinh hãi của ngươi trên họ” (Phục Truyền 11:25). Chính vì vậy, đẩy xung đột ra biển nông là cách buộc đối thủ phải đứng trước lựa chọn khó: tiến sâu thì chi phí cao và rủi ro leo thang, đứng xa thì mất ảnh hưởng; trong thế đó, Trung Quốc không cần thắng dứt điểm, chỉ cần làm đối phương không thể thoải mái vận hành, phù hợp với nguyên tắc rằng: “Một chút men làm dậy cả đống bột” (Ga-la-ti 5:9). Do đó, không phải ngẫu nhiên mà các điểm nóng đều tập trung ở những vùng biển nông như Đài Loan, Biển Đông, Hoa Đông – tất cả đều gần đất liền Trung Quốc và xa các căn cứ biển sâu của đối thủ – vì đó là không gian duy nhất Trung Quốc có thể “xoay” lực lượng trong phạm vi hạn chế; biển nông ở đây đóng vai trò như một “bản lề giả”, cho phép xoay cục bộ nhưng không thể xoay toàn cầu, đúng như lời: “Họ có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe” (Thi Thiên 115:5). Hệ quả dài hạn là xung đột bị kéo dài, căng thẳng thường trực ở vùng ven, nhưng điểm nghẽn cấu trúc không bao giờ được giải quyết, bởi không gian căn bản vẫn không đổi; Trung Quốc có thể làm nóng và làm rối trật tự khu vực, nhưng không thể tái định hình trật tự không gian toàn cầu, vì “Điều cong thì không làm cho thẳng được” (Truyền Đạo 1:15). Do đó có thể kết luận một cách dứt khoát rằng: biển nông là nơi Trung Quốc buộc phải đánh, không phải nơi họ muốn đánh; họ chọn biển nông không vì tham vọng đại dương, mà vì đó là không gian duy nhất còn cho phép họ xoay lực trong một cấu trúc không có bản lề thật sự, đúng như lời cuối cùng: “Loài người định mưu trong lòng, song sự đáp của lưỡi đến từ Đức Giê-hô-va” (Châm Ngôn 16:1).
